Tối 11 Tháng Giêng ở xóm Trám thuộc Tứ Xã, huyện Lâm Thao Phú Thọ, vùng sơn địa, mưa và rét. Vậy mà dân làng kéo đến đầy sân trước Miếu Trò Trám thờ vật linh Nõ Nường, tên tục gọi là Bà Đụ Đị để xem tế lễ. Sau lễ cáo tế dâng sớ đến lễ hát cúng rồi đến “lễ chầu chực” đợi giờ lành.
Tiếng gà gáy nửa đêm báo hiệu giờ lành là giờ Tý, chính lễ là “Lễ Mật” bắt đầu. Trong ngôi miếu gỗ, người xem chen nhau đến ngạt thở. Trò Trám với Lễ Mật bị lãng quên từ hơn nửa thế kỷ, mới được phục hồi trong thập niên 90 của thế kỷ trước, đặc biệt được tổ chức rầm rộ vào dịp Tết Nguyên đán Tân Tỵ (2001) cho đến nay.
Chủ tế khấn “thần chú”, lạy bốn lạy, lên bàn thờ hạ chiếc hòm, kính cẩn lấy ra hai vật “nõ nường”, sinh thực nam và nữ xưa kia là dùi gỗ mu rùa, nay là dùi gỗ (Nõ: dương vật) và mảnh gỗ ba góc (Nường: âm vật). Chủ tế hô: “Linh tinh tình phộc”, hai tay khoát trước ngực. Nam cầm Nõ phộc ba cái vào Nường do nữ cầm. Sau đó đèn tắt.
Theo đúng lễ thì đèn tắt để nam “phộc” trong đêm tối. Chủ tế nghe đủ ba tiếng cọc mới cho thắp đèn sáng. Sau khi đèn sáng, chiêng trống mới nổi lên. Chủ tế dẫn “đám trò” chạy quanh miếu ba vòng, dân làng chạy theo sau, vừa la hét vừa gõ dùi vào mẹt để đuổi ma quỷ và cái rủi, cho cả làng được mùa, may mắn.
Sau Lễ Mật, xưa kia trai gái tha hồ ngủ với nhau (tình phộc) ở rừng trám. Cô nào chửa trong dịp ấy mang lại may mắn cho cả nhà, được phường tổ chức lễ cưới và không phải nộp tiền “cheo”.
Lễ Mật và “Tình phộc ngoài rừng trám” còn kèm thêm “Trò tứ dân” là một trò diễn hài hước chế diễu bốn tầng lớp xã hội phong kiến (Sĩ: thầy đồ, Nông: vua Thuấn đi cày, người đánh cá, Công: thợ xẻ gỗ, Thương: cô gái bán xuân…). Trò Tứ dân hẳn đã tiếp thu tinh thần “tình phộc” của lễ phồn thực từ thời nguyên thuỷ (trước Bắc thuộc và ảnh hưởng Khổng học), vì theo nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn, người đã nghiên cứu khá kỹ về Lễ hội Trám, các lời ca trong Trò Tứ dân đều có ẩn dụ “tình phộc”. Ví dụ, đối với người thợ mộc, cái cưa cái đục là một thứ nõ “phộc” vào nường; vì cũng như cái bút của thầy đồ (sĩ) quệt vào nghiên mực, cái cày của người đi cày (nông) cắm xuống đất. Cứ nghe lời hát này thì thấy ẩn dụ:
- Ước gì em hóa lưỡi cày
Anh hoá cái bắp lắp ngay bây giờ.
- Đàn ông tậu ruộng ba bờ
Chớ để kẻ khác đem lờ đến đơm.
- Ai cấy thì gốc chống lên
Ngọn thời cắm xuống mới nên mùa màng.
Lễ hội Trám thuộc tín ngưỡng phồn thực phổ biến vào thời nguyên thuỷ. Nhiều nơi, người ta thờ cơ quan sinh dục vì tin chúng có sức mạnh phát triển cây trồng và vật nuôi.
Với những giải thích cần thiết, sự phục hồi lễ hội Trám để nông dân vui chơi, lạc quan nhân dịp đầu xuân là một điều hay.
Xin nói thêm, xóm Trám thuộc Tứ Xã chỉ cách Đền Hùng 3-4 km, nơi phát hiện di tích Gò Mun (thời kỳ đồ đồng). Xóm Trám tuy nghèo nhưng ý thức bảo vệ truyền thống cộng đồng đến nay rất cao. Đó là điểm đáng để ý khi nghiên cứu về người Việt cổ.
Ngoài ra, theo truyền thuyết, Hồ Xuân Hương đã lấy ông Tổng Cóc cũng ở Tứ Xã và lấy lẽ ông Phủ Vĩnh Tường cũng thuộc Lâm Thao. Nếu thật là thế thì trò Trám và những câu hát Tứ Dân có ảnh hưởng gì đến thơ của bà không?