Người Việt ta, từ Nam chí Bắc, từ xa xưa cho đến bây giờ, nhà nào cũng thế, giàu sang hay nghèo khó, ở chốn thị thành ồn ã hay thôn quê dân dã, bình yên, đều có bộ bàn ghế để uống nước mà ta thường gọi tắt là bàn nước.
Những nhà giàu sang có phòng khách riêng tậu bộ xa lông đắt tiền cả chục, cả trăm triệu. Những gia đình thường thường bậc trung sắm bộ bàn ghế bằng gụ, mun, trắc, nhưng thực chất là xà cừ, bạch đàn “xào xáo” lại. Những người trẻ tuổi, lắm tiền thích chơi đồ cổ sắm bộ tràng kỷ kiểu dáng thời Minh - Thanh hay Gia Long, Tự Đức có đầy đủ “lưỡng long chầu nguyệt”, “Rồng cuộn hổ ngồi”. Có ai đó một lần đến thăm chơi nhà các nghệ sỹ, kịch sỹ, ca sỹ như Thanh Lam chẳng hạn, thấy cái gì cũng bằng mây, song tre, từ tủ quần áo đến bàn uống nước, về tậu luôn bộ bàn nước mây tre vừa hợp túi tiền lại được tiếng là “Người Việt dùng hàng Việt”. Có nhiều nhà rất nhiều “sỹ” nhưng khốn nỗi chật chội quá liền trải chiếu ra sàn làm bàn nước, mời khách dùng chén trà nóng hay nhấp ly rượu nhạt.
Bàn nước sang trọng, đắt tiền hay đơn sơ, mộc mạc đều là mặt bàn gánh đủ các loại đồ uống cả ngàn đời nay, từ gáo nước mưa, cốc nước lọc đến chén trà nóng, bát chè xanh đứng tăm, chè thanh nhiệt, hay ly rượu quê thơm nồng… Bên bàn nước là những câu chuyện: chuyện vợ thương chồng, mẹ dặn con, em nhường anh, chuyện học hành của con trẻ, chuyện làm ăn của người lớn, chuyện làng, chuyện xã, chuyện phố, chuyện phường, chuyện cơ quan, công sở… Có biết bao thứ chuyện mà tôi đã nghe bên chiếc bàn nước, cao sang cũng có, thường thường bậc trung cũng nhiều và đơn sơ, dân dã cũng không ít, nhưng tôi không bao giờ quên bộ bàn nước của bà Ngoại, nhất là mỗi khi Tết đến Xuân về.
Ngày ấy, ngót nửa thế kỷ rồi, bà ngoại tôi đã già, nhưng vẫn đảm trách Bí thư Chi bộ. Bộ bàn nước bằng tre của bà trở thành điểm hẹn của các đồng chí. Những lúc có khách, đông nhất là những kỳ Chi bộ họp, bà giao nhiệm vụ “chính trị” cho tôi và hai anh chị con ông bác là nấu ấm chè xanh cho thật ngon. Chè thật tươi, xanh đậm, rửa sạch, lá không bị dập nấu với nước giếng mội (giếng khơi) hay nước mưa. Ấm chè sôi già thì bắc xuống, thêm gáo nước mưa rồi đậy kín vung, ủ bên bếp lửa. Nước chè sẽ xanh, thơm mà không đỏ, không ngái. Khi chị em tôi quanh quẩn bên ấm chè xanh chờ một câu khen của Ngoại thì Chi bộ đã bàn bao nhiêu việc quanh bàn nước. Nào là xây dựng hợp tác xã từ cấp thấp lên cấp cao, nào là đào hào liên thôn, liên xã, đắp công sự sẵn sàng bắn cháy máy bay Mỹ, nào là triển khai ngay kế hoạch sơ tán người già, phụ nữ, trẻ em đến nơi tương đối an toàn… Chi bộ biểu quyết bà thuộc diện phải sơ tán. Ngoại bảo đã đành là thiểu số phải phục tùng đa số, nhưng bà xin một ngoại lệ để được ở lại. Vì bà là Bí thư Chi bộ, vả lại, tuổi đã gần tám mươi, chết cũng được rồi. Bà muốn an nghỉ nơi quê nhà.
Ngoại tôi mất vào ngày cuối cùng của năm 1966, hưởng thọ 79 tuổi. Ngày dân làng Thượng đưa ngoại tôi về nơi an nghỉ cuối cùng trùng với ngày Tổng thống Mỹ ra lệnh tạm ngừng ném bom từ vĩ tuyến 17 trở ra nên người dự lễ tang đông nhất từ trước đến bấy giờ. Có đồng chí ở Vĩnh Hoàng (xã nói trạng) ra dự lễ tuyên bố: “Đồng chí Bí thư Cụ bà thiêng thật. Đến đế quốc Mỹ cũng phải nghỉ để đưa tiễn”.
Ngoại tôi tính hỏa nên uống nước chè xanh phải nóng giòn. Cứ mỗi lần nghĩ về bộ bàn nước của Ngoại, tôi đinh ninh một điều là đã ngồi bên bàn nước tất phải có chuyện: chuyện nhà, chuyện họ mạc, chuyện làng, chuyện phố, mà lớn hơn cả là chuyện Nước.