Men của đất
Thứ bảy, 04 Tháng 5 2019 15:50
Gia đình tôi được tiếng phong lưu, mấy chục đời sinh sống trên mảnh đất này nhưng đến tôi thì tăm tiếng ấy chỉ còn lại trong ký ức.
Dân làng vẫn thường kể: Ông tôi là thế hệ cuối cùng được hưởng cái bình an yên ấm ấy. Cụ tôi được năm người con trai, ông tôi là út. Chẳng biết có phải “giàu con út, khó cũng con út” hay không, riêng ông tôi từ lúc ấu thơ cho đến khi trưởng thành có một đời sống rất đặc biệt! Ông tôi được học hành, thời ấy có tấm bằng “Séc-ti-fi-ca” là có thể ra thành thị lập nghiệp rồi. Không giống với bè bạn, ông tôi ở lại làng. Các anh của ông tôi đều ra Hà Nội kiếm sống cả… Ông tôi bảo: Chẳng lẽ lại bỏ đi hết lấy ai phụng dưỡng cha mẹ khi tuổi đã về già…
Thế rồi... “cải cách ruộng đất” gia đình tôi khánh kiệt. Ông tôi đem ruộng đất ra góp và trở thành xã viên hợp tác xã nông nghiệp. Dân làng không ai ngờ ông tôi lại trở thành một thợ cày dẻo dai, bền bỉ mấy chục năm trời. Rồi tiếp đến “chiến tranh phá hoại miền Bắc” của đế quốc Mỹ, bố tôi tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, tôi lớn lên bên cạnh ông. Cho đến tận bây giờ là hình ảnh ông ngồi bên gốc mít trong một vuông sân nhỏ, trước một nếp nhà ba gian lợp lá gồi (lá cọ) theo năm tháng thời gian, ngày mỗi ngày in đậm vào tâm trí tôi.
 
alt
 
Hôm ấy tôi ở trường về, đó là một buổi chiều đầu thu, ông tôi ngồi trên một cái chõng tre đặt dưới gốc mít như mọi chiều thường vẫn thế. Tôi đến bên cạnh, bảo: Ông ơi, cháu thi đỗ đại học rồi ạ! Ông dừng tay quạt, cái nhìn chợt sững lại: Bao giờ cháu nhập trường? Cháu không đi học đâu ông ạ. Sao lại thế? Cháu đi lấy ai chăm sóc cho ông, ông đã già rồi… Không được, cháu phải đi. Tôi nghẹn ngào: Học hành đến như ông rồi cũng chẳng để làm gì. Ông tôi quắc mắt: Ông khác!...Vâng ạ, tuần sau cháu nhập trường. Ông tôi phe phẩy quạt và khe khẽ nói: Giá như bây giờ có chén rượu thì hay nhỉ!
Chẳng biết mẹ tôi có nghe thấy không, nhưng người vội vã đẩy cổng bước ra ngõ. Một lát sau quay về, mẹ lặng lẽ vào bếp rồi khẽ khàng đặt bên cạnh ông một cái mâm gỗ đã chóc hết sơn nhưng sạch sẽ. Trên mâm có một nậm rượu, hai cái chén “hạt mít” và có nhõn một cái đĩa sứ trắng trơn lòng. Trong đĩa có khoảng mươi, mười lăm hột lạc rang. Ông tôi rót rượu ra hai cái chén… Hôm ấy là lần đầu tiên trong đời tôi được uống một ly rượu. Còn lại một mình, ông tôi cứ xoay cái chén nhỏ trên mấy đầu ngón tay rồi lại đưa lên mũi hít hà, tợp một ngụm, ngậm miệng lại sau đó là một tiếng “khà”…
Ông tôi cứ ngồi như thế cho tới lúc trăng lên. Trăng mười bốn giát vàng, giát bạc xuống xóm làng. Mãi cho tới khuya tôi mới giật mình tỉnh dậy, ông tôi vẫn lặng ngồi như thế. Râu tóc người đã bạc nay cứ sáng lên ngời ngợi dưới ánh trăng đã lên đến đỉnh trời, tôi nhớ đến câu của ông: Tiên tửu! Tôi bồng bềnh trong hư ảo, hay là tôi say rượu… Chẳng biết nữa, song mãi mãi hình ảnh ấy in khắc vào tâm khảm tôi, mấy chục năm rồi vẫn bồi hồi mỗi lần nhớ lại.
Sau đó mấy ngày tôi nhập trường cũng là lúc nậm rượu được gạn đến những giọt cuối cùng. Ngày ấy, đất nước khó khăn, lương thực còn chưa đủ nuôi người lấy đâu mà nấu rượu. Rượu được quản lý chặt và nghiêm cấm nấu trong các gia đình. Nấu rượu là một hành động phạm pháp. Mẹ tôi bảo: Họ nhà tôi, mộ tổ đặt vào một cuộc đất hình cái “be” (nậm rượu) nên mọi người trong nhà ai cũng hay rượu. Ông tôi bảo: có phong lưu mới có rượu uống, đói nghèo đào đâu ra… Hơn chục năm nay, ông tôi không có rượu để uống thường ngày, như thế là khổ lắm. Một năm đôi ba lần, được cửa hàng hợp tác xã mua bán, phân phối cho một cút (1/4 lít), chẳng bõ xúc miệng, mà lại là rượu mía, mỗi lần tợp vào miệng, bỏng như nuốt phải… cồn!
 
alt
 
Tôi ra trường đi làm được vài năm thì “mở cửa” (thời kỳ đất nước đổi mới). Việc đầu tiên là tôi mua rượu cho ông. Nghe thấy ở đâu có rượu ngon là lại mang về. Thoảng một hai năm mà trong gậm bàn thờ đã có bao nhiêu là rượu. Tôi bảo ông: Nghe nói thời trai trẻ ông hay rượu lắm, lúc khó khăn đã đành… Nay, ông cứ thoải mái đi! Ông tôi bảo: Mỗi bữa ông chỉ uống chừng mực để ngon cơm thôi… Vả lại uống rượu cũng phải có lý do chứ!
Thế rồi lần đầu tiên trong đời tôi được chứng kiến cuộc rượu của ông tôi với mấy người bạn thuở thiếu thời. Bữa rượu hôm ấy có năm người, ông tôi và hai người bạn ở làng bên cạnh, ba người đều là thợ cày. Hai người nữa là người làng nhưng định cư ở Pháp từ năm 1954 đến nay mới về thăm quê. Mấy hôm trước ông tôi đã nói cho cả nhà biết việc này. Mẹ tôi dợm ý ông tôi mấy lần để chuẩn bị thực phẩm. Ông tội bảo: Uống rượu đâu cứ phải là mâm cao cỗ đầy!
Cuộc rượu ấy diễn ra ngay dưới gốc mít nhà tôi. Vẫn cái nậm cũ chỉ có rượu là mới. Mấy năm nay tôi sợ ông uống rượu không rõ nguồn gốc hại đến sức khỏe. Tôi bảo mẹ mua mấy tạ thóc nếp rồi mang xay xát. Sắm một bộ đồ nấu rượu, mời một người nấu rượu “giỏi” nhất trong làng đến. Tất cả mọi việc đều tiến hành tại nhà, rượu cất xong đổ vào chum, năm nào cũng thế, rượu nào được nhiều “tuổi” nhất mang ra uống, hết chum nọ đến chum kia…
Năm người ngồi quây tròn trên chiếc chiếu trải ngay dưới gốc mít. Tôi liếc nhìn, trong mâm chẳng có gì ngoài mấy bìa đậu phụ trắng vừa luộc còn nóng hôi hổi, một bát mắm tôm đã vắt chanh sủi bọt. Đặc biệt là những lá rau kinh giới, chúng cứ xanh mướt mát trong cái mâm đồng sáng choang. Ông tôi mở đầu: Rượu này được cất từ giống nếp cái trên cánh đồng trước mặt làng, tôi để dành đã được ba, bốn năm… Những cái chén hạt mít được đưa lên hít hà rồi mọi người đều ngửa cổ hết chén đầu tiên, sau đó nhất loạt một tiếng “khà”! Sau mấy tuần rượu tiếng nói cười râm ran cả khoảng sân chiều.
Cuộc rượu kết thúc vào lúc trời sâm sẩm tối, cầm tay ông tôi, ông Việt kiều nói: Tôi đi nhiều nơi, được uống nhiều thứ rượu trứ danh trên thế giới nhưng chúng không thể nào sánh được rượu quê mình. Đúng là mỹ tửu! Ông Việt kiều kia chắp tay cúi đầu: Quốc hồn, quốc túy!...
Sau đó mấy năm ông tôi mất, kỷ vật tôi còn giữ đến giờ là cái nậm và mấy cái chén hạt mít. Mỗi lần nhìn thấy chúng được bày trang trọng trong một góc tủ chè tôi lại nhớ đến ông, nhớ đến những buổi chiều ông ngồi bên nậm rượu, với hình ảnh người ông cao sang, nhàn nhã... Có một đêm tôi chợt giật mình thức dậy sau một cuộc rượu buổi chiều với bè bạn trong làng, đó là một đêm trăng hạ tuần. Tôi nhìn ra cửa, cả một vuông sân mênh mông trăng. Có lẽ trời đã khuya, trăng nghiêng sang phía trời tây nhưng còn sáng lắm. Xóm làng ba bên bốn bề im phăng phắc. Tôi đã tỉnh rượu và chợt nhận ra rằng: Chúng tôi uống rượu… vất vả quá, mỗi ly lại phải hô: Một, hai, ba… zô!!! Tôi nhớ đến ông, và biết bao điều mình phải suy nghĩ lại trước những thói hư, tật xấu của cuộc đời này! Sinh thời, ông tôi thường bảo: Chớ để cho rượu nó làm mình hèn hạ đi, đó là… cẩu tửu!
Hà Nguyên Huyến
 


Tìm chúng tôi trên Facebook




 



 







Liên kết website

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1273
mod_vvisit_counterHôm qua14576
mod_vvisit_counterTuần này77140
mod_vvisit_counterTuần trước102679
mod_vvisit_counterTháng này207334
mod_vvisit_counterTháng trước395206
mod_vvisit_counterTất cả28440560
  Hội đồng Biên tập:
Chủ tịch: PGS. TS Nguyễn Văn Việt - Chủ tịch VBA
Các ủy viên:
THS. Nguyễn Tiến Vỵ
Văn Thanh Liêm
GS. TS Đinh Văn Thuận
Nhà sử học Dương Trung Quốc

Phó Tổng biên tập phụ trách:
 
Nhà báo Nguyễn Văn Chương